Bản ngã không có gốc rễ, chỉ là những ý nghĩ riêng biệt liên kết tạo thành chuỗi ý nghĩ, hay đám đông ý nghĩ được gọi là tâm trí. Tâm trí sáng tạo ra các khái niệm ngôn ngữ theo ước định tiêu chí nào đó để định danh, định nghĩa, diễn giải, biện biệt, so sánh, phân tích, phê phán, kết luận .v.v. và .v.v. Các ước định giả lập này trở thành sự tiện dụng, tiện ích mang tính nhị nguyên lưỡng cực đối lập về việc nhận biết mọi thứ cũng như việc truyền thông giao tiếp trong cuộc sống hiện sinh.
Các ước định nhị nguyên đối lập luôn đồng hành với nhau trong hiện sinh không hề tách rời, ví dụ: bản ngã-vô ngã, ham muốn-sợ hãi, được-mất, buồn-vui, sống-chết .v.v.
Ham muốn và sợ hãi là các cực đối lập của nhau, nhưng ở mỗi cực của nó cũng tự phân cực ra nhị nguyên tiếp nối nhau liên tục. Ví dụ, ham muốn cái này-không ham muốn cái kia đối lập hay cái khác nào đó; tương tự, sợ hãi cái này-không sợ hãi cái đối lập hay cái khác nào đó. Hoặc ham sống-không ham chết; sợ chết-không sợ sống .v.v.
Bản ngã do tâm trí tạo ra, làm cách gì đó cho bản ngã tan biến cũng có nghĩa là làm cho tâm trí dừng vận hành. Tâm trí vắng mặt thì vô trí hiện diện, hay bản ngã vắng mặt thì vô ngã hiện diện. Tâm trí là bản ngã thô, vô trí (hay tâm thức, linh hồn, vô ngã) là tự ngã tinh tế (cái ‘đây’ là) vẫn còn nằm trong nhị nguyên tinh tế. Siêu việt vượt ra ngoài vô ngã cũng là vượt lên trên nhị nguyên tinh tế được gọi là tính như thế (như thị), tính hiện hữu… của thực tại hiện sinh trong vạn hữu - cái tinh tế trong tinh tế, siêu tinh tế.
Nhận xét
Đăng nhận xét