NTV/=khi người chứng ngộ nói, trả lời, câu trả lời đó là đáp ứng toàn bộ của trống rỗng của ông ấy, của con người của ông ấy. Ông ấy vọng lại bạn, ông ấy phản xạ bạn, ông ấy là chiếc gương. Ông ấy không có mặt của riêng ông ấy. Mặt của ông ấy được phản chiếu trong tâm ông ấy.
Người chứng ngộ có làm quyết định, chọn lựa không?
Nếu có trống rỗng tuyệt đối bên trong người chứng ngộ, thế thì làm sao có chuyện người đó dường như là làm các quyết định, phân biệt, thích cái này hay không thích cái kia, nói có hay không?
Điều này sẽ thực sự có vẻ ngược đời. Nếu người chứng ngộ đơn giản là trống rỗng, thế thì với chúng ta điều đó trở thành ngược đời. Thế thì tại sao ông ấy nói có hay không? Tại sao ông ấy chọn? Tại sao ông ấy thích những thứ nào đó và không thích những thứ khác? Tại sao ông ấy nói? Tại sao ông ấy bước đi? Tại sao ông ấy sống chút nào?
Với chúng ta đây là vấn đề; nhưng với người chứng ngộ nó không phải là vấn đề. Mọi thứ được làm từ trống rỗng. Người chứng ngộ không chọn lựa. Nó có vẻ như chọn lựa với chúng ta nhưng người chứng ngộ đơn giản đi theo một hướng - hướng đó tới từ bản thân trống rỗng.
Nó giống thế này. Bạn đang bước đi. Đột nhiên một chiếc xe tới trước bạn và bạn cảm thấy rằng tai nạn sẽ xảy ra. Bạn không quyết định làm gì. Bạn có quyết định không? Làm sao bạn có thể quyết định được? Không có thời gian. Quyết định sẽ cần thời gian. Bạn sẽ phải trầm tư và suy nghĩ, cân nhắc ủng hộ và chống đối, quyết định liệu nhảy theo cách này hay cách nọ. Bạn không quyết định. Bạn đơn giản nhảy. Từ đâu cú nhảy đó tới? Giữa nhảy và bạn không có quá trình suy nghĩ. Đột nhiên bạn trở nên nhận biết rằng chiếc xe ở trước bạn và bạn nhảy. Cú nhảy xảy ra trươc hết. Thế rồi về sau bạn có thể nghĩ. Trong khoảnh khắc đó bạn nhảy qua sự vội vã; toàn thể con người bạn nhảy mà không có bất kì quyết định nào.
Nhớ, quyết định bao giờ cũng là một phần, nó không bao giờ có thể là của toàn thể. Quyết định ngụ ý rằng có xung đột. Một phần của con người bạn đã nói, "Làm cái này," phần khác nói, "Không làm cái này." Đó là lí do tại sao quyết định được cần. Bạn phải quyết định, tranh cãi, và một phần phải bị đẩy sang bên. Đó là điều quyết định ngụ ý. Khi tính toàn bộ của bạn có đó, không có nhu cầu quyết định. Không có phương án nào. Người chứng ngộ là toàn bộ bên trong bản thân người đó, trống rỗng toàn bộ. Cho nên bất kì cái gì tới, nó tới từ tính toàn bộ của người đó, không từ bất kì quyết định nào. Nếu người đó nói "có" đó không phải là chọn lựa: không có "không" để được chọn, không có phương án nào. "Có" là đáp ứng của con người toàn bộ của người đó. Nếu người đó nói "không", thế thì "không" là đáp ứng của con người toàn bộ của người đó. Đó là lí do tại sao người chứng ngộ không bao giờ có thể hối hận. Bạn bao giờ cũng hối hận. Bất kì cái gì bạn làm, nó không tạo ra khác biệt - bất kì cái gì bạn làm, bạn sẽ hối hận. Nếu bạn muốn cưới người đàn bà, nếu bạn quyết định "có", bạn sẽ hối hận, nếu bạn quyết định "không", bạn sẽ hối hận. Vì bất kì cái gì bạn quyết định đều là quyết định một phần, phần kia bao giờ cũng chống lại. Nếu bạn quyết định, "Có, tôi sẽ cưới người đàn bà này," một phần con người bạn đang nói, "Không làm điều này, mình sẽ hối hận." Bạn không là toàn bộ.
Khi khó khăn nảy sinh.... Chúng nhất định nảy sinh vì khi hai người khác nhau bắt đầu sống cùng nhau, khó khăn nhất định nảy sinh. Sẽ có xung đột, sẽ có vật lộn để chi phối, sẽ có chính trị quyền lực. Thế thì phần kia sẽ nói, "Trông đấy! Mình đã nói gì? Mình đã nhấn mạnh rằng mình phải không làm điều này, và mình đã làm nó." Nhưng điều đó không ngụ ý rằng nếu bạn đã đi theo phần kia, thì chắc đã không có hối hận. Không! Hối hận chắc sẽ có đó, vì thế thì bạn chắc đã cưới người đàn bà khác nào đó, và xung đột và vật lộn chắc đã xảy ra. Thế thì phần kia chắc tiếp tục nói, "Mình đã bảo cưới người đàn bà đầu rồi. Mình đã bỏ lỡ cơ hội. Cõi trời bị mất, và mình đã cưới một địa ngục."
Bạn sẽ hối hận, dù hoàn cảnh là bất kì cái gì, vì quyết định của bạn không thể là toàn bộ. Nó bao giờ cũng chống lại một phần, và phần đó sẽ báo thù. Cho nên bất kì cái gì bạn quyết định, nếu bạn làm điều tốt bạn sẽ hối hận, nếu bạn làm điều xấu bạn sẽ hối hận. Nếu bạn làm điều tốt, thế thì tâm trí bạn, phần kia, sẽ liên tục nói rằng bạn đã bỏ lỡ cơ hội. Nếu bạn làm điều xấu, thế thì bạn sẽ cảm thấy mặc cảm. Người chứng ngộ không bao giờ hối hận. Thực sự ông ấy không bao giờ nhìn lại sau. Không có gì để nhìn lại sau. Bất kì cái gì được làm đều được làm với tính toàn bộ của ông ấy.
Cho nên điều đầu tiên cần được hiểu là ở chỗ ông ấy không bao giờ chọn lựa. Chọn lựa xảy ra với trống rỗng của ông ấy; ông ấy không bao giờ quyết định. Điều đó không có nghĩa là ông ấy là lưỡng lự. Ông ấy tuyệt đối có tính quyết định, nhưng ông ấy không bao giờ quyết định. Cố hiểu tôi đi. Quyết định xảy ra trong trống rỗng của ông ấy. Đây là cách toàn thể con người ông ấy hành động: không có cái gì nhiều hơn cho nó. Nếu bạn đang bước đi và một con rắn bò qua đường, bạn đột nhiên nhảy lên - có vậy thôi. Bạn không quyết định. Bạn không tư vấn thầy và người hướng dẫn. Bạn không đi tìm sách trong thư viện về phải làm gì khi rắn bò qua đường - làm nó thế nào, kĩ thuật là gì. Bạn đơn giản nhảy. Và nhớ, việc nhảy đó tới từ con người toàn bộ của bạn, nó đã không là quyết định. Con người toàn bộ của bạn đã hành động theo cách đó. Có vậy thôi. Không có gì nhiều hơn cho nó. Với bạn dường như là người chứng ngộ đang chọn lựa, quyết định, phân biệt, vì bạn đang làm điều đó mọi khoảnh khắc. Và bạn không thể hiểu được cái gì đó mà bạn đã không biết chút nào. Người chứng ngộ tình cờ làm các thứ mà không có bất kì quyết định nào, không có bất kì nỗ lực nào, không có bất kì chọn lựa nào - người đó là vô chọn lựa. Nhưng điều đó không có nghĩa là nếu bạn đưa cho người đó thức ăn và đá, người đó sẽ bắt đầu ăn đá. Người đó sẽ ăn thức ăn. Với bạn việc đó sẽ có vẻ dường như người đó đã quyết định không ăn đá, nhưng người đó đã không quyết định. Điều đó đơn giản là ngu xuẩn. Nó không xảy ra cho người đó. Người đó ăn thức ăn. Đây không phải là quyết định - chỉ kẻ ngốc sẽ quyết định liệu ăn đá hay thức ăn. Tâm trí ngu xuẩn quyết định; tâm trí chứng ngộ đơn giản hành động. Và tâm trí càng tầm thường, nỗ lực càng phải được làm để quyết định.
Đó là điều lo nghĩ nghĩa là gì. Lo nghĩ là gì? Có hai phương án và không có cách nào để quyết định giữa chúng - và tâm trí cứ nghĩ mãi, khoảnh khắc này phía bên này, khoảnh khắc khác phía bên kia. Đây là điều lo nghĩ là gì. Lo nghĩ ngụ ý bạn phải quyết định và bạn đang cố quyết định, nhưng bạn không thể quyết định được. Cho nên bạn lo nghĩ, bị phân vân, đi trong vòng tròn luẩn quẩn. Người chứng ngộ không bao giờ lo nghĩ. Người đó là toàn bộ. Cố hiểu điều này. Người đó không bị phân chia, người đó không bị chia chẻ, không có hai người trong người đó. Nhưng trong bạn có đám đông: không chỉ hai người, có nhiều, nhiều người đang sống trong bạn, nhiều tiếng nói, chỉ đám đông. Người chứng ngộ là sự thống nhất sâu sắc, người đó là vũ trụ. Bạn là “đa vũ trụ". Từ này "universe-vũ trụ" là hay. Nó ngụ ý một - "uni". Bạn là “đa vũ trụ”, có nhiều thế giới trong bạn.
Điều thứ hai cần được hiểu là ở chỗ bất kì cái gì bạn làm, trước khi làm nó, có suy nghĩ, ý nghĩ. Bất kì cái gì người chứng ngộ làm, không có suy nghĩ, không ý nghĩ. Người đó đang làm nó.
Nhớ, suy nghĩ được cần vì bạn không có mắt để thấy. Suy nghĩ là cái thay thế. Nó giống như người mù dò dẫm đường đi trên con đường bằng chiếc gậy. Người mù có thể hỏi những người có mắt cách họ dò dẫm, kiểu gậy nào họ dùng để dò đường trên đường. Và họ sẽ đơn giản cười; họ sẽ nói rằng họ không cần gậy. Họ có mắt. Họ đơn giản thấy cửa ra vào ở đâu, họ không cần dò dẫm tìm nó. Và họ không bao giờ nghĩ về cửa ở đâu. Họ thấy và họ đi qua nó. Nhưng người mù không thể tin được rằng bạn có thể đơn giản đi qua cửa. Đầu tiên bạn sẽ phải nghĩ về cửa ở đâu. Đầu tiên bạn sẽ phải dò hỏi. Nếu ai đó có đó bạn sẽ phải hỏi cửa ở đâu. Và cho dù hướng được cho, bạn sẽ phải dò dẫm tìm nó bằng gậy - và thế nữa có thể có nhiều cạm bẫy. Nhưng khi bạn có mắt, nếu bạn muốn đi ra, bạn đơn giản nhìn... bạn không nghĩ về cửa ở đâu, bạn không quyết định. Bạn đơn giản nhìn, cửa có đó, bạn đi qua nó. Bạn không bao giờ nghĩ rằng đây là cửa - bạn đơn giản dùng nó và bạn hành động.
Cùng điều này là tình huống với tâm trí không chứng ngộ và tâm trí chứng ngộ. Tâm trí chứng ngộ đơn giản nhìn. Mọi thứ là rõ ràng. Người đó có sự sáng tỏ. Toàn thể con người của người đó là ánh sáng. Người đó nhìn quanh và người đó đơn giản vận động, hành động - người đó không bao giờ nghĩ. Bạn phải nghĩ vì bạn không có mắt. Chỉ người mù nghĩ; họ phải nghĩ vì họ không có mắt. Họ cần cái thay thế cho mắt, và suy nghĩ cung cấp cái đó.
Tôi không bao giờ nói rằng Phật hay Mahavira hay Jesus là những nhà tư tưởng lớn. Điều đó chắc chỉ là vô nghĩa. Họ không là nhà tư tưởng chút nào. Họ là người biết, không là nhà tư tưởng. Họ có mắt, họ có thể thấy, và qua việc thấy họ hành động. Bất kì cái gì bắt nguồn từ vị Phật đều bắt nguồn từ trống rỗng, không từ tâm trí đầy với ý nghĩ. Nó đi ra từ bầu trời trống rỗng. Nó là đáp ứng của trống rỗng.
Nhưng với chúng ta điều đó là khác vì không cái gì tới chúng ta theo cách đó. Chúng ta phải nghĩ về nó. Nếu ai đó hỏi một câu hỏi, bạn phải nghĩ về nó. Và ngay cả thế bạn không bao giờ có thể chắc chắn rằng bất kì cái gì bạn nói là câu trả lời. Vị Phật trả lời; ông ấy không nghĩ. Bạn hỏi ông ấy, và trống rỗng đơn giản đáp ứng. Đáp ứng đó không phải là thứ được ngẫm nghĩ. Nó là đáp ứng toàn bộ. Con người ông ấy cư xử theo cách đó. Đó là lí do tại sao bạn không thể yêu cầu sự nhất quán từ Phật. Bạn không thể yêu cầu. Ý nghĩ có thể là nhất quán, nhà tư tưởng nhất định là nhất quán - nhưng người chứng ngộ không thể nhất quán, vì từng khoảnh khắc tình huống thay đổi. Và từng khoảnh khắc mọi sự bắt nguồn từ trống rỗng của ông ấy. Ông ấy không thể ép buộc. Ông ấy không thể nghĩ. Ông ấy không thực sự nhớ điều ông ấy đã nói hôm qua. Mọi câu hỏi đều tạo ra câu trả lời mới. Và mọi câu hỏi tạo ra đáp ứng mới. Điều đó tuỳ vào người hỏi.
Phật vào một làng. Một người hỏi, "Có Thượng đế không?" Phật nói, "Không." Đến trưa, người khác hỏi, "Có Thượng đế không?" Phật nói, "Có." Thế rồi đến tối, người thứ ba hỏi, "Có Thượng đế không?" Phật vẫn còn im lặng. Chỉ trong một ngày: sáng, không; trưa, có; tối, im lặng - chẳng có chẳng không.
Đệ tử của Phật, Anand, trở nên phân vân. Ông ấy đã nghe cả ba câu trả lời. Đến đêm khi nọi người đã đi nghỉ, ông ấy hỏi Phật, "Tôi có thể hỏi thầy một câu hỏi được không? Chỉ trong một ngày thầy đã trả lời một câu hỏi theo ba cách, không chỉ khác nhau, mà mâu thuẫn. Tâm trí tôi bị thách đố. Tôi không thể ngủ được nếu thầy không trả lời. Thầy ngụ ý gì? Buổi sáng thầy nói có, buổi trưa, không, buổi tối thầy vẫn còn im lặng. Và câu hỏi là một." Phật nói, "Nhưng người hỏi là khác. Và làm sao những người hỏi khác nhau hỏi cùng câu hỏi được?" Điều này thực hay, rất sâu. Ông ấy nói, "Làm sao những người hỏi khác nhau hỏi cùng câu hỏi được? Câu hỏi bắt nguồn từ con người, nó là sự trưởng thành. Nếu con người là khác, làm sao câu hỏi có thể là một được? Buổi sáng khi ta nói có, người đã hỏi là người vô thần. Người đó đã tới để có được xác nhận của ta rằng không có Thượng đế. Và ta không thể xác nhận quan điểm vô thần của anh ta được, vì anh ta đang khổ vì nó. Và vì ta không thể là một phần trong khổ của anh ta, và ta muốn giúp anh ta, ta đã nói, "Vâng, Thượng đế tồn tại." Đó là cách ta cố phá huỷ cái gọi là quan điểm vô thần của anh ta. Buổi trưa, khi người khác có đó, anh ta là người hữu thần và anh ta khổ qua quan điểm hữu thần của anh ta. Ta không thể nói có cho anh ta được vì điều đó chắc sẽ là việc xác nhận - điều mà vì nó anh ta đã tới. Thế thì anh ta chắc sẽ đi và nói, 'Vâng, bất kì cái gì tôi đã nói đều đúng. Ngay cả Phật cũng nói vậy.' Và người này là sai. Ta không thể giúp cho người sai trong cái sai của anh ta cho nên ta phải nói không để phá huỷ bất kì cái gì anh ta đang là vậy, để làm tan tành tâm trí anh ta. Và người tới lúc buổi tối không là cả hai. Anh ta là người đơn giản, hồn nhiên và anh ta không đòi hỏi bất kì xác nhận nào. Anh ta không có ý thức hệ; anh ta thực sự là người tôn giáo. Cho nên ta phải im lặng. Ta đã nói cho anh ta, "Im lặng về câu hỏi này đi. Không nghĩ về nó." Nếu như ta đã nói có, điều đó chắc đã là sai vì anh ta không có đó để tìm thượng đế học. Nếu như ta đã nói không, điều đó chắc đã là sai, vì anh ta không được xác nhận trong bất kì quan điểm vô thần nào. Anh ta không quan tâm tới các ý nghĩ, các ý tưởng, các lí thuyết, học thuyết, không; anh ta là người tôn giáo thực. Làm sao ta có thể thốt ra bất kì lời nào trước anh ta? Ta phải im lặng. Anh ta đã hiểu im lặng của ta. Khi anh ta đi, tính tôn giáo của anh ta đã sâu sắc thêm."
Phật nói, "Ba người không thể hỏi cùng câu hỏi. Họ có thể phát biểu nó theo cách tương tự - đó là chuyện khác. Câu hỏi tất cả đều đã là "Thượng đế có tồn tại không?" Cách phát biểu là như nhau, nhưng con người mà từ đó những câu hỏi này tới đã là khác toàn bộ. Họ đã ngụ ý những điều khác nhau bởi nó; giá trị của họ đã là khác; liên kết của họ với lời đã là khác."
Tôi nhớ, một lần chuyện xảy ra là Mulla Nasruddin trở về nhà một buổi tối. Cả ngày anh ta đã bị cuốn vào trận đấu bóng đá. Anh ta là một fan hâm mộ. Đến tối khi anh ta đi vào nhà, vợ anh ta đang đọc báo, và cô ấy nói, "Trông này, Nasruddin, có cái gì đó dành cho anh đấy. Người ta đưa tin ở đây rằng một người đàn ông đã cho đi vợ mình để đổi lấy chiếc vé xem các trận đá bóng cả mùa vụ. Anh cũng là một người hâm mộ, người hâm mộ điên cuồng, nhưng em không thể quan niệm được rằng anh sẽ làm cùng điều đó. Hay anh sẽ làm? Anh có thể đổi em để lấy vé mùa vụ xem các trận đá bóng không?"
Nasruddin nghĩ lung lắm, và thế rồi anh ta nói, "Tất nhiên anh sẽ không đổi đâu - vì điều đó là nực cười và tội phạm. Mùa bóng đã qua quá nửa rồi."
Mọi tâm trí đều có khuynh hướng riêng của nó. Bạn có thể dùng cùng lời nhưng bởi vì bạn là khác, những lời đó không thể là như nhau.
Thế rồi Phật nói điều khác, và điều đó thậm chí còn ý nghĩa hơn. Ông ấy nói, "Anand, sao ông bị rối trí? Ông đã không là người tham dự. Ông đáng không nên nghe, vì không một câu trả lời nào được trao cho ông. Ông đáng phải vẫn còn dửng dưng, bằng không ông sẽ phát điên. Đừng đi cùng ta vì ta sẽ được tham gia với nhiều, nhiều kiểu người. Và nếu ông lắng nghe mọi thứ mà không được nói cho ông, ông sẽ bị lẫn lộn và điên. Ông cứ bỏ lại ta đi. Bằng không, nhớ lắng nghe chỉ khi ta nói cho ông; vào những lúc khác đừng nghe. Bất kì cái gì ta nói không phải là việc của ông. Nó đã không được nói cho ông và nó đã không là câu hỏi của ông chút nào. Cho nên tại sao ông phải lo nghĩ? Ông không có liên quan. Ai đó hỏi, ai đó khác đáp. Tại sao ông lo nghĩ không cần thiết về nó? Nếu ông có cùng câu hỏi, hỏi đi, và thế thì ta sẽ trả lời. Nhưng nhớ, câu trả lời của ta không phải là dành cho câu hỏi, mà dành cho người hỏi. Ta đáp ứng. Ta nhìn vào người này, ta thấy qua người này, người này trở thành trong suốt - và đây là đáp ứng của ta. Câu hỏi là không liên quan; người hỏi là có liên quan."
Bạn không thể hỏi về sự nhất quán từ người đã chứng ngộ. Chỉ người không chứng ngộ, dốt nát có thể nhất quán, vì họ không có cái nhìn. Họ chỉ đi theo ý tưởng nào đó. Họ mang các ý tưởng chết, nhất quán. Trong cả đời mình họ sẽ mang cái gì đó và họ sẽ vẫn còn nhất quán với nó. Họ không ngu, đó là lí do tại sao họ có thể vẫn còn nhất quán. Họ không sống động. Họ chết. Tính sống động không thể nhất quán. Điều đó không có nghĩa rằng nó là sai - tính sống động là nhất quán, nhưng rất sâu, không trên bề mặt. Phật là nhất quán trong cả ba câu trả lời, nhưng nhất quán của ông ấy không phải trong câu trả lời - nhất quán của ông ấy là trong nỗ lực để giúp đỡ. Ông ấy muốn giúp đỡ người thứ nhất. Ông ấy muốn giúp đỡ người thứ hai. Ông ấy muốn giúp đỡ người thứ ba. Với cả ba người, từ bi có đó, yêu có đó. Ông ấy muốn giúp họ - đó là nhất quán của ông ấy. Nhưng nó là dòng chảy sâu. Lời của ông ấy là khác, câu trả lời của ông ấy là khác, nhưng từ bi của ông ấy là một.
Cho nên khi người chứng ngộ nói, trả lời, câu trả lời đó là đáp ứng toàn bộ của trống rỗng của ông ấy, của con người của ông ấy. Ông ấy vọng lại bạn, ông ấy phản xạ bạn, ông ấy là chiếc gương. Ông ấy không có mặt của riêng ông ấy. Mặt của ông ấy được phản chiếu trong tâm ông ấy. Cho nên nếu một kẻ ngốc tới gặp Phật, người đó sẽ gặp kẻ ngốc - Phật chỉ là chiếc gương. Và người đó sẽ đi và lan truyền tin đồn rằng Phật là kẻ ngốc. Người đó đã thấy bản thân mình trong Phật. Nếu ai đó nhạy cảm, hiểu biết, chín chắn, trưởng thành, đến gặp, người đó sẽ thấy cái gì đó khác trong Phật: người đó sẽ thấy mặt riêng của mình. Không có cách khác - bạn liên tục soi gương trong những người là trống rỗng toàn bộ. Thế thì bất kì cái gì bạn mang đều là diễn giải của bạn.
Điều được nói trong kinh sách cổ là khi bạn đi tới người chứng ngộ, vẫn còn im lặng toàn bộ đi. Không nghĩ, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ ông ấy. Chỉ vẫn còn im lặng. Không nghĩ. Hấp thu ông ấy, nhưng không cố hiểu ông ấy qua cái đầu của bạn. Hấp thu ông ấy, uống ông ấy, cho phép toàn bộ con người bạn là mở với ông ấy, để ông ấy đi vào bên trong bạn, nhưng không nghĩ về ông ấy - vì nếu bạn nghĩ, thế thì tâm trí bạn sẽ bị vọng lại. Để toàn bộ con người bạn được tắm trong sự hiện diện của ông ấy. Chỉ thế thì bạn sẽ có thoáng nhìn về kiểu hiện hữu gì, kiểu hiện tượng gì bạn đã đi vào tiếp xúc với. Nhiều người đã tới Phật. Họ tới và đi. Họ mang ý kiến riêng của họ, và họ đi ra và họ lan toả ý kiến của họ. Rất ít người, thực sự rất ít người, đã hiểu - và đó là cách nó phải vậy, vì bạn chỉ có thể hiểu tương ứng với bạn. Nếu bạn sẵn sàng tan chảy và thay đổi và được biến đổi, chỉ thế thì bạn có thể hiểu người chứng ngộ là gì, hiện hữu chứng ngộ là gì.
Từ "Vigyan Bhairav Mật tông - tập 4, Ch.80"
Nhận xét
Đăng nhận xét