ta là : một đại duong tâm thức
Và thứ ba là Ngài không tin linh hồn, không tin Thượng Đế, không tin thiên đường. Điều này có vẻ khó khăn. Chúng ta có thể chấp nhận là không có Thượng Đế vì có ai thấy Ngài bao giờ đâu; rất có thể đó là một sự phóng chiếu. Ta cũng có thể chấp nhận không có thiên đường, bởi vì có thể nó chỉ là một ước muốn không được toại nguyện của chúng ta. Nhưng không có linh hồn? Thế thì chẳng có chỗ nào cho bạn bám vào cả. Không có linh hồn? Thế thì mục đích của đời người là gì? Nếu không có linh hồn, nếu chết là hết thì dù có nỗ lực cách mấy cũng vô ích. Thiền quán để làm gì? Cầu nguyện có ích chi? Đức Phật nói rằng ý tưởng về tự ngã, về linh hồn đã bị hiểu lầm. Bạn hiện hữu, nhưng bạn không có tự ngã. Bạn hiện hữu nhưng không tách biệt khỏi vũ trụ. Sự tách biệt là cơ sở của khái niệm về tự ngã. Nếu tôi tách biệt bạn, tôi có tự ngã. Nếu bạn tách biệt tôi, bạn có linh hồn. Đức Phật nói: cái tồn tại là một, chẳng có biên giới. Không ai tách biệt người khác. Chúng ta sống trong một đại dương tâm thức. Chúng ta là một tâm thức nhưng bị mê hoặc bởi sự tách biệt của cơ thể, bị lừa vì ranh giới của tâm trí. Và bởi vì thân xác và tâm trí, và vì sự đồng hóa với thể xác và tâm trí, chúng ta nghĩ rằng chúng ta tách biệt, chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những "tự ngã" biệt lập. Cái tôi theo đó mà có. Chẳng hạn, nhìn lên bản đồ bạn sẽ thấy Mỹ, nhưng trên mặt đất chẳng hề có Mỹ - chỉ trên bản đồ của các chính khách. Trên bản đồ thì Mỹ Châu và Phi Châu tách rời nhau, nhưng sâu bên dưới, bên dưới đại dương, chỉ có một trái đất. Mọi lục địa đều nối liền nhau, chúng chỉ là một trái đất. Chúng ta chỉ tách biệt trên bề mặt. Càng đi sâu hơn, sự tách biệt càng lu mờ. Khi vào tận cốt lõi của bản thể chúng ta, bỗng nhiên nó trở thành đại đồng - chẳng có tự ngã, chẳng có linh hồn. Đức Phật chẳng có tín ngưỡng về ThượngĐế, về linh hồn, về tiên cảnh. Vậy thì Ngài dạy điều gì? Ngài dạy về một lối sống, không phải tín ngưỡng. Phương pháp của Ngài rất khoa học, dựa vào kinh nghiệm, thực tiễn. Ngài không phải là triết gia, không phải nhà siêu hình. Ngài là một người thực tế. Đức Phật nói, "Bạn có thể thay đổi cuộc sống mà không cần đến tín ngưỡng." Thật vậy, những niềm tin ấy là những cản trở cho sự thay đổi. Bước đầu là bỏ tín ngưỡng, bỏ siêu hình, bỏ giáo điều. Hãy bắt đầu bằng số không, chẳng cần triết lý, không cần ý thức hệ. Bắt đầu bằng tay trắng. Đó là cách duy nhất để đến với chân lý.
Tôi đã nghe rằng:
Một du khách mở cuốn thánh kinh do hội Gideon đặt trong khách sạn. Trong trang đầu có hàng chữ in, "Nếu bạn bị bệnh, hãy đọc Thánh Vịnh 18. Nếu gia đạo bất hòa, hãy đọc Thánh Vịnh 45. Nếu bạn cô độc, hãy đọc Thánh Vịnh 92." Người ấy cảm thấy cô độc nên mở Thánh Vịnh 92 và đọc. Khi đọc hết đoạn ấy, người ấy thấy bên dưới có hàng chữ, "Nếu bạn vẫn còn cảm thấy cô đơn, xin gọi 888-1234 và nói muốn gặp Nani." Nếu đọc kỹ thánh thư của bạn, bạn sẽ thấy cước chú hấp dẫn hơn. Đôi khi chúng không được rõ lắm, nhưng nếu để ý, bạn sẽ tìm thấy - cước chú thích hợp hơn. Đức Phật nói tất cả thánh thư của bạn chỉ là những ước muốn, những bản năng, những tham lam, những nhục dục, những giận hờn của bạn. Chúng chỉ là những sáng tạo của tâm trí của bạn, cho nên nó phải có dấu vết của tâm trí. Thánh thư do con người sáng tạo. Vì vậy các tôn giáo đều cố chứng minh rằng thánh thư của họ không phải là sản phẩm của con người. Ki Tô hữu nói rằng Thượng Đế là tác giả của Thánh Kinh; Mười Điều Răn được chính Thượng Đế trao cho Mai Sen (Moses); Tân Ước là thông điệp trực tiếp của Ngôi Hai, con một của Thượng Đế. Nó không phải là sáng tạo của con người. Nó đã được chính Thượng Đế mặc khải. Người Ấn cũng nói kinh Vệ Đà không phải là sản phẩm của con người. Và câu chuyện cứ thế mà lặp lại: Người Hồi nói kinh Koran được Thượng Đế đọc cho Mohammed. Tại sao các tôn giáo đều nói thánh thư của họ là của Thượng Đế, còn của các tôn giáo khác thì không? Người Hồi không chấp nhận kinh Vệ Đà là của Thượng Đế. Mà người Ấn cũng không chấp nhận kinh Koran. Sao vậy? Bởi vì họ biết rõ rằng bất kỳ những gì do con người sáng tạo đều có dấu vết của tâm trí, của ham muốn. Đức Phật nói mọi thánh thư đều do con người sáng tạo. Ngài không phải là người cuồng tín. Ngài chẳng thuộc về quốc gia nào, chủng tộc nào, tôn giáo nào, phe nhóm nào. Ngài chỉ là ánh sáng của chính Ngài. Và những gì Ngài phát biểu đều là những thông điệp thuần khiết nhất của chân lý.
Một người bạn gửi cho tôi một câu chuyện rất hay: Những tín đồ Ái Nhĩ Lan yêu cầu vị lãnh đạo tôn giáo của họ chọn một chỗ để xây lăng tẩm của mình. Trong lúc đó thì cuộc thánh chiến đang diễn ra, và ông ta có thể bị thiệt mạng bất cứ lúc nào. Ba địa điểm được đề nghị, và ông ta đã chọn chỗ rẻ tiền nhất, trái với ý muốn của hội đồng. Được hỏi tại sao lại chọn nơi tầm thường như thế, thay vì hai vị trí thơ mộng kia. Ông ta trả lời, "Các bạn thân mến của tôi ơi! Tôi rất cảm kích sự rộng lượng của quý vị. Nhưng tôi sẽ không nằm trong đó quá ba ngày. Vậy thử hỏi có phí phạm không?" 8 Những ý tưởng điên rồ như thế sẽ không có nơi Đức Phật. Ngài sẽ do dự. Người cũng do dự như thế là Lão Tử. Chỉ có hai vị này là do dự.
Đôi khi vì do dự nên họ không gây ấn tượng tốt nơi bạn. Bởi vì lẫn lộn nên bạn cần một người tuyệt đối tự tin để bạn có thể tin tưởng vào. Do đó bạn thường bị những bọn cuồng tín hấp dẫn. Họ cũng chẳng có gì để nói, nhưng vì đập bàn rầm rầm, vì la lối om sòm nên họ cho bạn cảm tưởng là họ biết, nếu không, sao họ quả quyết như thế? Có những tôn giáo quả quyết đến độ cuồng tín, đến độ họ đã tạo ra được cảm giác chắc chắn. Mà những người rối rắm rất cần sự chắc chắn. Khi gặp một vị Phật, có thể bạn không chú ý lắm vì ngài không quả quyết như thế, vì ngài không tuyên bố huyên hoang. Ngài biết rõ hơn mọi người. Ngài biết là đời sống không thể tóm tắt trong một phát biểu, mà phát biểu nào cũng vặt vãnh. Không phát biểu nào có thể chứa đựng hoàn toàn chân lý, cho nên dựa vào đâu mà quả quyết. Ngài biết tất cả chỉ là tương đối thôi. Đức Phật và Mahavira là hai đạo sư nổi tiếng nhất của Ấn Độ. Các Ngài hiểu rõ luật tương đối. Einstein chỉ mới khám phá ra gần đây thôi. Einstein đã đem thuyết tương đối vào khoa học. Trước đó khoa học rất chắc chắn, chắc chắn một cách cuồng tín, một cách tuyệt đối. Khoa học đã trở nên khiêm nhường hơn, thành thật hơn.9
Đức Phật và Mahavira đã làm như thế ở Ấn Độ. Các Ngài đã đưa tương đối vào tôn giáo khi nói rằng chân lý không thể phát biểu một cách toàn bộ, rằng ta không thể khẳng định một cách tuyệt đối, rằng cùng lắm thì ta chỉ có thể gợi ý. Sự gợi ý ấy phải gián tiếp, không thể trực tiếp được; ta không thể chỉ thẳng một cách trực tiếp được, bởi vì nó quá mênh mông, quá rộng lớn. Cho nên người đã đạt đạo phải do dự là lẽ đương nhiên. Sự do dự đó là bằng chứng của sự cảnh giác cao độ. Những người đần độn thường cuồng tín. Càng đần độn càng cuồng tín. Đó là một trong những điều đáng buồn của nhân loại. Kẻ ngu thì quả quyết, mà người biết lại do dự. Đức Phật cũng do dự. Cho nên nếu muốn hiểu được Ngài, bạn phải tỉnh thức và phải cởi mở để nghe lời của Ngài. Ngài không truyền chân lý cho bạn một cách quy mô. Ngài chỉ hướng dẫn, chỉ gợi ý, và điều đó cũng đã khó lắm rồi. Tôi đã nói rằng Đức Phật là người rất thực tiễn. Chẳng mấy khi Ngài bàn đến những vấn đề siêu hình. Ngài không hề rào trước đón sau mà đi thẳng vào vấn đề, càng đơn giản càng tốt. Đôi khi những lời Ngài nói không có vẻ thâm thuý lắm, nhưng nếu hiểu được thì vô cùng uyên áo. Ngài không hề đánh vào bụi rậm, không hề khoa trương.
Tôi đã nghe rằng:
Nàng vừa mới đôi mươi; chàng là một ngôi sao đang lên trong một công ty nổi tiếng. Ai cũng nghĩ hai người rất xứng đôi. Nhưng ai ngờ vấn đề lại là chuyện chăn gối. Tuần trăng mật chưa bắt đầu mà nàng đã than phiền với bạn bè, "Là một chuyên gia quảng cáo nên đêm đêm anh ấy cứ ngồi cạnh giường mà nói chuyện đó sẽ đẹp như thế nào!"
Nhưng nó chưa hề xảy ra.
Đức Phật chẳng cần phải sửa soạn. Ngài không hề quảng cáo những gì Ngài sắp nói. Ngài nói những gì cần phải nói rồi bàn qua chuyện khác. Ngài nói: Vì bị thôi thúc bởi những ham muốn ích kỷ nên người ta đuổi theo danh vọng và phú quý. Nhưng khi được rồi, họ đã bỏ phí nhiều năm. Nếu say mê danh vọng ở đời mà quên đường đạo, bạn đã đi sai đường, và bạn phí sức một cách vô ích. Chẳng khác gì bạn đốt nhang. Dù thơm đến đâu cũng mặc, nó sẽ bị lửa của chính nó đốt cháy.
Một lời giáo huấn rất đơn giản và thực tế:
Vì bị thôi thúc bởi những ham muốn ích kỷ nên người ta đuổi theo danh vọng và phú quý. Ham muốn ích kỷ là gì? Theo thuật ngữ Phật Giáo, ham muốn ích kỷ là ham muốn của về chính mình. Nhưng theo ngôn ngữ thông thường, ta nói một ham muốn là ích kỷ nếu nó làm hại người khác, và bạn chẳng quan tâm đến người khác. Mặc dù có hại cho người khác, bạn vẫn làm mọi cách để thoả mãn ham muốn đó. Bạn bị nói là ích kỷ nếu bạn chẳng quan tâm đến người khác, bạn chỉ biết chính mình. Nhưng khi Đức Phật nói ham muốn là ích kỷ, ý nghĩa của Ngài khác hẳn. Ngài nói nếu ham muốn dựa vào ý tưởng của linh hồn, đó là ích kỷ. Thí dụ: Nếu bạn cho cả triệu đồng để xây nhà thương, hay cất trường học, hay cho đồ ăn và thuốc men cho người nghèo, không ai nói bạn ích kỷ cả. Đức Phật nói nó ích kỷ - nếu có động cơ của linh hồn. Nếu nghĩ rằng cho nhiều tiền như thế bạn sẽ được công đức và sẽ được phần thưởng trên thiên đường, đó là ham muốn ích kỷ. Nó chẳng làm hại ai cả, mà thật ra, bạn được mọi người ghi ơn. Bạn sẽ được coi là một mạnh thường quân, một người đức hạnh, thánh thiện, đầy lòng từ bi. Nhưng Đức Phật sẽ nói yếu tố duy nhất để phán xét nếu ham muốn đó là ích kỷ hay không là động cơ của nó. Nếu bạn cúng dường mà chẳng có động cơ gì cả thì không ích kỷ. Nếu có động cơ đàng sau, dù bạn ý thức hay không, là bạn sẽ được trọng thưởng ở đời này hay đời sau, đó là ích kỷ. Những gì do tự ngã thúc đẩy đều là ích kỷ. Nếu do cái tôi mà hành động thì ích kỷ. Nếu bạn thiền để được giác ngộ, đó là ham muốn ích kỷ. Đức Phật thường nói với các đệ tử của Ngài: Mỗi khi thiền, sau khi thiền, hãy trả lại những gì mình nhận được, hãy trả lại cho vũ trụ. Nếu cảm thấy phúc lạc, hãy hướng về vũ trụ và đừng giữ lại như một bảo vật. Nếu cảm thấy hạnh phúc, hãy chia sẻ ngay lập tức. Đừng bám lấy nó, nếu không, thiền của bạn chỉ là việc làm của cái tôi. Mục đích tối thượng của thiền là vất bỏ cái ngã, cái tôi - đó là sự biến mất của tự ngã. Đức Phật nói, vì bị thôi thúc bởi những ham muốn ích kỷ nên người ta đuổi theo danh vọng và phú quý. Nhưng khi được rồi, họ đã bỏ phí nhiều năm. Có thể bạn có danh vọng, có tiếng tăm, có thế lực và được mọi người kính nể. Nhưng bạn đang làm gì vậy? Bạn có ý thức việc làm của bạn không? Bạn đã bỏ lỡ cơ hội tốt để chạy theo những cái tuyệt đối vô ích. Bạn đang thu thập rác rưởi, và bạn phí thời giờ và sức lực. Ngài nói, nếu say mê danh vọng ở đời mà quên đường đạo. Ngài gọi đạo của Ngài là "con đường" - pháp. Ngài nói đừng bận tâm về kết quả vì kết quả sẽ tự xảy ra. Bạn chỉ cần theo con đường đã mở ra; thậm chí bạn cũng chẳng cần lý do để tìm đến kết quả, mà sự vui thú khi thiền quán, khi cầu nguyện, khi bố thí cũng đủ rồi. Bạn tu đạo chỉ vì bạn vui thích, chẳng phải vì bạn được công đức gì, và đừng biến nó thành một dịch vụ buôn bán. Thời gian như bóng bạch câu. Mỗi khoảnh khắc đi qua sẽ không bao giờ trở lại. Đức Phật nói: Đừng phí thời giờ vào những chuyện ngu xuẩn. Danh vọng là ngu xuẩn, vô ý nghĩa. Thậm chí nếu cả thế giới biết đến bạn thì cũng chẳng làm bạn giầu thêm. Sao nó có thể làm bạn hạnh phúc được? Sao nó có thể giúp bạn thông minh hơn, tỉnh thức hơn, cảnh giác hơn, sống động hơn? Vì bạn chẳng tu thân, Ngài nói, bạn đã đi sai đường, và bạn phí sức một cách vô ích. Chẳng khác gì bạn đốt nhang. Dù thơm đến đâu cũng mặc, nó sẽ bị lửa của chính nó đốt cháy. Đời sống là thế đấy - mỗi phút đã qua là bị đốt cháy. Bạn luôn luôn nằm trên dàn hỏa thiêu, bởi vì mỗi lúc thần chết càng đến gần, vì mỗi phút bạn càng ít sống động hơn. Cho nên trước khi cơ hội này qua đi, Đức Phật nói, hãy đạt đến trạng thái vô ngã. Thế thì sẽ không có cái chết; sẽ không có đau khổ. Được như thế thì bạn sẽ không cần danh vọng, thế lực, tiếng tăm. Thật ra, càng trống rỗng bên trong, bạn càng chạy theo danh vọng, bởi vì nhờ nó mà bạn lấp đầy được khoảng trống ấy. Càng thiếu thốn bên trong, bạn càng đuổi theo phú quí bấy nhiêu, vì nó giúp bạn quên được sự nghèo túng ấy. Tôi thường thấy rằng mỗi khi người ta thiếu tình yêu, họ sẽ ăn như heo. Mỗi khi gây gỗ với người yêu, mỗi khi không được yêu, hay không thể yêu, họ sẽ ăn cả ngày, chẳng biết ngon miệng hay không. Tại sao vậy? Tại sao họ phải ăn? Vì họ cảm thấy cô đơn, và sự trống trải ấy làm họ sợ. Nếu được hạnh phúc bên trong, bạn sẽ không màng đến danh vọng. Chỉ những người bất hạnh mới tìm đến vinh hoa. Nếu đã biết chính mình là ai, cần gì ai phải biết đến bạn. Nhưng nếu không biết mình là ai, bạn sẽ muốn mọi người biết đến mình. Bạn sẽ thu thập ý kiến của người khác, những gì họ nghĩ về bạn. Và qua những ý kiến đó bạn sẽ có một nét đặc thù: "Phải rồi, đó là tôi. Người ta nói tôi thông minh nên tôi phải thông minh." Bạn không chắc chắn lắm. Mà nếu bạn biết rõ, cần gì phải theo ý kiến của người khác?
Khi nhìn vào mắt người khác, bạn thấy mặt của mình trong đó. Bạn không thấy mặt của mình. Cho nên bạn xin xỏ, "Hãy nói tôi là ai. Hãy nói rằng tôi đẹp, rằng tôi dễ thương, rằng tôi có duyên." Bạn có nhận ra sự xin xỏ của mình không? "Hãy nói về cơ thể của tôi, về tâm trí của tôi, về sự hiểu biết của tôi. Xin hãy cho tôi một vài lời!" Bạn sẽ chộp lấy ý kiến của người khác. Nếu ý kiến không tốt, bạn sẽ tức giận. Người ấy làm hoen ố hình ảnh đẹp của bạn nếu nghĩ xấu về bạn. Nếu ý kiến ấy tốt, người ấy giúp bạn tô điểm thêm cái hình ảnh ấy, và bạn cảm thấy đắc ý hơn nữa. Bạn sẽ sung sướng khi có người vỗ tay. Tại sao? Vì không biết mình là ai nên bạn phải tìm kiếm. Bạn tìm người mà hỏi, "Tôi là ai vậy? Hãy nói cho tôi biết." Theo đó mà bạn dựa vào người khác. Một điều mỉa mai là họ cũng không biết họ là ai. Những tên ăn mày tìm nhau mà xin xỏ. Họ cũng tìm bạn mà xin. Đó là một sự lừa dối hỗ tương. Một ông gặp một bà và nói, "Cô đẹp quá! Có duyên quá!" Và cô ta đáp lại, "Tôi chưa gặp một ngày nào đẹp trai như anh." Đó là sự lừa dối hỗ tương. Họ có thể nói đó là tình yêu, nhưng đó chỉ là sự lừa dối lẫn nhau. Cả hai đều muốn có một đặc tính nào đó, và cả hai thoả mãn lẫn nhau. Mọi sự sẽ tốt đẹp, cho đến khi một trong hai cảm thấy chán ngấy và không muốn chơi trò bịp bợm ấy nữa. Lúc ấy thì tuần trăng mật đã kết thúc... và họ nói đến hôn nhân. Thế rồi cơm không lành, canh không ngọt. Chồng nghĩ, "Tôi ăn phải bùa mê, thuốc lú." Vợ thì nghĩ, "Tôi bị ông ấy lừa." Chẳng ai lừa bạn cả, trừ khi bạn sẵn sàng để bị lừa. Chẳng ai lừa ai cả, nếu họ không sẵn sàng để bị lừa, chờ để bị lừa.
Bạn không thể lừa được người đã biết mình là ai. Người ấy sẽ cười trước ý kiến của bạn. Người ấy sẽ nói, "Đừng phí thời giờ một cách vô ích. Tôi đã biết tôi là ai rồi. Bạn muốn gì thì cứ nói. Xin đừng quan tâm về tôi. Tôi đã biết tôi là ai rồi." Khi nội tâm đã dồi dào, bạn sẽ không chạy theo xa hoa, không đuổi theo quyền lực. Các nhà tâm lý nhận thấy rằng khi con người cảm thấy bất lực, họ đi tìm những biểu tượng của dục vọng để thay thế. Khi cảm thấy bất lực, có người muốn có xe thật đẹp để bù lại sự bất lực đó. Anh ta muốn chiếc xe đẹp nhất trần gian; thế lực của anh ta đã mất, đàn ông tính không còn nên anh ta muốn thay bằng cái khác. Anh ta sẽ cảm thấy khoái chí khi xe phóng như bay, như thể đang trong vòng tay người yêu. Vận tốc cho anh ta sức mạnh. Anh ta sẽ đồng nhất với xe. Các nhà tâm lý đã quan sát hiện tượng đó trong nhiều năm, là những người có mặc cảm tự ti luôn luôn có tham vọng lớn. Thật vậy, chẳng ai lao mình vào chính trị trừ khi người ấy có nhiều mặc cảm tự ti. Chính trị gia nói chung là những người có mặc cảm. Họ muốn chứng minh sự ưu việt của họ, nếu không họ không thể sống với cảm giác thua kém ấy. Điều mà tôi muốn nói đây là những gì không có bên trong, bạn sẽ thu thập những cái bên ngoài để bù lại. Nếu trong nội tâm của bạn không thiếu gì cả, bạn sẽ thư giãn trong phúc lạc của mình. Được như thế bạn mới thấy được vẻ đẹp của mình. Chỉ như thế bạn mới biết mình là ai. Đức Phật nói, "Người đời bám vào những của cải ở đời và những đam mê ích kỷ một cách mù quáng, đến nỗi họ đã hy sinh cả đời vì chúng. Họ chẳng khác những đứa trẻ cố liếm những giọt mật đang dính trên lưỡi dao. Những giọt ấy không thể thoả mãn chúng, nhưng lưỡi của chúng có thể bị dao cắt." Ham muốn của bạn không thể thoả mãn được ở đời này. Đó là thế giới của mộng tưởng. Không gì có thể thoả mãn được, bởi vì chỉ có cái thực mới thoả mãn được. Bạn không thấy vậy sao? Khi ngủ mơ, bạn mở tủ lạnh mà ăn no nê. Dĩ nhiên, cái hay của nó là nó không làm xáo trộn giấc ngủ của bạn, nếu không, bụng đói sẽ không để bạn ngủ yên. Giấc mơ bù lại bạn cái bạn không có và giúp bạn ngủ được. Bạn cảm thấy, "Ta đã no bụng rồi." Bạn đã lừa cơ thể của mình. Giấc mơ là tên lừa gạt. Khi tỉnh dậy bạn vẫn thấy đói bụng, bởi vì yến tiệc trong khi ngủ khác nào nhịn ăn. Yến tiệc và nhịn ăn cũng là một trong mơ, bởi vì mơ không có thực. Nó không thể giúp bạn thoả mãn được. Muốn hết khát phải có nước thật sự. Chỉ những cái hiện thực mới thoả mãn bạn được mà thôi. Đức Phật nói bạn luôn luôn tạo cơ hội để làm tổn thương chính mình, nhưng bạn không thể được toại nguyện ở đời này. Có thể đôi lúc bạn nếm được vài giọt mật - ngọt, nhưng nguy hiểm và không hết thèm. Mà những giọt mật ong ấy lại được thoa trên lưỡi dao; rất có thể lưỡi bạn sẽ bị dao cắt đứt. Hãy nhìn những người đã có tuổi: Bạn sẽ thấy họ đầy thương tích; bản thể của họ chỉ có thương tích và lở loét. Khi một người chết, bạn không thấy một nụ cười trong bản thể, mà chỉ thấy những thương tích đã thối tha. Nếu một người đã sống và không bị gạt gẫm bởi mộng mơ và những ham muốn giả tạo, sống càng lâu người ấy càng trở nên hồn nhiên. Khi chết người ấy còn đẹp hơn nữa. Đôi khi bạn gặp một người già mà trong tuổi già còn đẹp hơn khi còn trẻ nữa. Hãy cúi chào người ấy - người ấy đã sống một cách chân thực, một đời sống nội tâm tràn đầy. Bởi vì nếu sống một cách chân thực, càng ngày bạn càng trở nên lộng lẫy, và sự sáng ngời sẽ đến với bạn với đầy ân sủng. Một hào quang sẽ xuất hiện chung quanh bạn, và bạn trở thành đền thờ của cái tối thượng, cái vĩnh hằng. Lý và sự phải vậy vì đời sống là một sự tiến hoá. Nếu bạn không còn trẻ và trở nên xấu xa,đó là bằng chứng bạn đã liếm mật trên nhiều lưỡi dao - bạn đã bị thương nhiều lần. Tuổi già trở thành một sự thống khổ lê thê, và mấy người được nhắm mắt một cách an lành, bởi vì ít khi người ta thực sự sống. Nếu một người sống một cách thực sự - như thể ngọn nến cháy từ hai đầu - cái chết của người ấy sẽ là một hiện tượng vĩ đại, một cái đẹp tuyệt trần. Bạn sẽ thấy sự sống của người ấy rực sáng nhất khi chết. Lúc lâm chung người ấy trở thành một ngọn lửa cực mạnh. Toàn thể tinh anh của người ấy tập trung lại trong khoảnh khắc ấy; một nguồn sáng phát khởi từ bản thể của người ấy. Trước khi vĩnh viễn ra đi, người ấy sẽ ghi dấu lại cho đời. Điều đó đã xảy ra khi Đức Phật nhập niết bàn. Điều đó cũng xảy ra với Mahavira khi Ngài lìa đời. Chúng ta không thể quên họ, không phải vì họ có quyền thế, họ chẳng là ai cả, nhưng chúng ta không thể quên họ được. Nói về lịch sử, họ chẳng làm gì cả. Gần như chúng ta có thể loại bỏ họ ra ngoài lịch sử, chúng ta có thể gạch tên họ ra khỏi lịch sử mà chẳng có gì mất mát cả. Thật vậy, họ không hề hiện hữu đối với lịch sử thành văn; họ đứng bên lề lịch sử, nhưng chúng ta không thể quên họ được. Khoảnh khắc sau cùng họ đã để lại một huy hoàng cho nhân loại. Sự rực sáng sau cùng của họ đã cho chúng ta thấy những khả năng vô hạn của chúng ta.
Thấy Và Tin
Đức Phật lặp đi lặp lại cho các đệ tử của Ngài, "Ehi passiko: hãy đến và xem." Họ là những người có đầu óc khoa học. Phật Giáo là tôn giáo hợp khoa học nhất trên thế gian này. Cho nên Phật Giáo càng ngày càng được nhiều người tin theo. Khi nhân loại trở nên thông minh hơn, Đức Phật sẽ trở nên quan trọng hơn nữa. Nhất định phải vậy. Khi nhiều người biết về khoa học Ngài sẽ trở nên hấp dẫn đối với họ hơn, bởi vì Ngài hợp với những tâm hồn khoa học. Ngài thường nói, "Những gì ta nói có thể thực hành được, và ta không nói, 'Hãy tin như thế,' mà ta nói, 'Hãy thí nghiệm điều ta nói, hãy kinh nghiệm chứ đừng tin.' Ngoài ra chẳng có gì để phải tin cả." ( OSHO).
Được gửi từ iPhone của tôi
Nhận xét
Đăng nhận xét